A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Dự thảo Nghị định quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non

Chính phủ đang chuẩn bị ban hành Nghị định quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non (GDMN) thay thế cho Nghị định số 06/2018/NĐ-CP ngày 05/01/2018 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non với những chính sách cụ thể sau:

1. Chính sách đầu tư phát triển mạng lưới trường, lớp giáo dục mầm non

a) Nhà nước có trách nhiệm quy hoạch, củng cố, phát triển mạng lưới trường, lớp mầm non phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Mỗi quận, huyện đều có quy hoạch chi tiết và dành quỹ đất xây dựng cơ sở GDMN phù hợp với tình hình thực tế địa phương, đáp ứng nhu cầu đưa trẻ đến trường/lớp mầm non; thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi. Bảo đảm yêu cầu kiên cố hóa trường lớp và đủ 01 phòng/ nhóm, lớp. Đầu tư xây dựng mới, bổ sung các hạng mục công trình theo quy định theo hướng đạt chuẩn về cơ sở vật chất. Khuyến khích thu hút các nguồn lực của xã hội đầu tư phát triển cơ sở vật chất cho GDMN dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật. Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng một phần hoặc toàn bộ công trình hoặc sử dụng quỹ nhà, cơ sở hạ tầng hiện có cho các tổ chức, cá nhân thuê để thành lập cơ sở GDMN dân lập, tư thục.

b) Ưu tiên đầu tư kinh phí xây dựng các cơ sở GDMN công lập ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Bảo đảm 01 phòng học/nhóm, lớp và đáp ứng yêu cầu kiên cố hóa trường lớp học. Cơ sở GDMN công lập ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ được ngân sách hỗ trợ kinh phí để tổ chức nấu ăn cho trẻ em mầm non.

Định mức khoán kinh phí tổ chức nấu ăn cho trẻ em mầm non được tính trên số lượng trẻ em được ăn bán trú, tối thiểu bằng 2.400.000 đồng/01 tháng/45 trẻ em trong năm 2020, số dư từ 20 trẻ em trở lên được tính thêm một lần định mức. Mỗi cơ sở GDMN được hưởng không quá 05 lần định mức nêu trên/01 tháng và không quá 9 tháng/01 năm học. Định mức khoán trong các năm tiếp theo tăng 5% so với định mức khoán của năm trước liền kề.

c) Chính sách ưu tiên phát triển giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất

Đối tượng hưởng chính sách: Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, tổ chức vận hành cơ sở GDMN dân lập, tư thục có trẻ em là con công nhân, người lao động ở địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất. Nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, lớp mầm non độc lập (sau đây gọi tắt là cơ sở GDMN độc lập) thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cấp có thẩm quyền cấp phép thành lập ở địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất.

Chính sách được hưởng: Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, tổ chức vận hành cơ sở GDMN dân lập, tư thục có trẻ em là con công nhân, người lao động ở địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất được hưởng các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng và các chính sách khuyến khích xã hội hóa theo quy định của Chính phủ. Đồng thời, được miễn hoàn toàn tiền thuê đất và miễn, giảm tiền thuê cơ sở vật chất do nhà nước đầu tư.  Cơ sở GDMN độc lập được hỗ trợ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học theo danh mục quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hỗ trợ kinh phí sửa chữa cơ sở vật chất để phục vụ trực tiếp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em. Mức hỗ trợ tối thiểu là 20 triệu đồng/ cơ sở GDMN độc lập.

d) Chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục mầm non

Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực GDMN được hưởng các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng và các chính sách khuyến khích xã hội hóa theo quy định của Chính phủ. Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực GDMN được hưởng các chính sách đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục mầm non theo hình thức đối tác công tư theo quy định của pháp luật về đầu tư. Cơ sở GDMN công lập ở những địa bàn không thuộc các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện một số dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm: dịch vụ bán trú, dịch vụ giáo dục mầm non.

2. Chính sách đối với trẻ em mầm non

a) Hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo

Đối tượng hưởng chính sách: Trẻ em độ tuổi mẫu giáo (không bao gồm trẻ em dân tộc thiểu số rất ít người theo quy định tại Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ em mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người) đang học tại lớp mẫu giáo trong các cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm một trong những điều kiện sau: Có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; Không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Là nhân khẩu trong gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; Trẻ em là con liệt sĩ, con thương binh, con của người hưởng chính sách như thương binh, con anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, con Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, người có công giúp đỡ cách mạng; Trẻ em khuyết tật học hòa nhập.

Nội dung chính sách: Trẻ em bảo đảm một trong những điều kiện quy định trên được hỗ trợ tiền ăn trưa là 160.000 đồng/trẻ/tháng trong năm 2020. Mức hỗ trợ các năm tiếp sau tăng mỗi năm 5% so với mức hỗ trợ của năm trước liền kề. Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

b) Trợ cấp đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất

Đối tượng được hưởng chính sách: Trẻ em có cha hoặc mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em là công nhân, người lao động phổ thông đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất được doanh nghiệp ký hợp đồng lao động, có tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo đúng quy định, không bao gồm cơ sở giáo dục mầm non thực hiện hợp tác đầu tư với nước ngoài/ hoặc có yếu tố nước ngoài.

Nội dung chính sách: Trẻ em thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hỗ trợ 160.000 đồng/trẻ/tháng trong năm 2020. Mức hỗ trợ các năm tiếp sau tăng mỗi năm 5% so với mức hỗ trợ của năm trước liền kề. Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

3. Chính sách đối với giáo viên mầm non

a) Đối với giáo viên mầm non dạy lớp ghép, tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số

Đối tượng hưởng chính sách: Giáo viên mầm non dạy tại các điểm lẻ của các cơ sở GDMN công lập ở các thôn đặc biệt khó khăn, xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ đảm bảo một trong những điều kiện sau: Trực tiếp dạy 02 buổi/ngày tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo ghép từ hai độ tuổi trở lên; Trực tiếp dạy tăng cường tiếng Việt tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có trẻ em là người dân tộc thiểu số.

Nội dung chính sách: Giáo viên mầm non thuộc đối tượng trên hàng tháng được hỗ trợ thêm một khoản bằng tiền là 800.000 đồng/tháng (tám trăm ngàn đồng một tháng) trong năm 2020. Mức hỗ trợ các năm tiếp sau tăng mỗi năm 5% so với mức hỗ trợ của năm trước liền kề. Thời gian hưởng hỗ trợ tính theo số tháng dạy thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học. Tiền hỗ trợ được trả cùng với việc chi trả tiền lương của tháng và không dùng tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

b) Đối với giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất

Đối tượng hưởng chính sách: Giáo viên mầm non đảm bảo tiêu chuẩn tương đương chức danh giáo viên mầm non theo quy định được ký hợp đồng lao động, có tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định, trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ tại các cơ sở GDMN thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo đúng quy định, không bao gồm cơ sở giáo dục mầm non thực hiện hợp tác đầu tư với nước ngoài/ hoặc có yếu tố nước ngoài ở địa bàn có khu công nghiệp, khu chế xuất.

Nội dung chính sách: Giáo viên mầm non đảm bảo các điều kiện quy định trên được hỗ trợ tối thiểu 800.000 đồng/tháng (tám trăm ngàn đồng một tháng) trong năm 2020. Mức hỗ trợ các năm tiếp sau tăng mỗi năm 5% so với mức hỗ trợ của năm trước liền kề.

Số lượng giáo viên trong cơ sở GDMN dân lập, tư thục được hưởng hỗ trợ được tính theo định mức quy định đối với các cơ sở GDMN công lập hiện hành. Thời gian hưởng hỗ trợ tính theo số tháng dạy thực tế trong năm học. Mức hỗ trợ này nằm ngoài mức lương thỏa thuận giữa chủ cơ sở GDMN dân lập, tư thục với giáo viên và không dùng tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

c) Hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn đối với giáo viên mầm non dân lập, tư thục

Đối tượng hưởng chính sách: Giáo viên mầm non (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, chủ nhóm, tổ trưởng chuyên môn) đang làm việc tại các cơ sở GDMN dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo quy định.

 Nội dung chính sách: Giáo viên mầm non theo quy định trên được Nhà nước hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn khi tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Mức hỗ trợ của ngân sách thực hiện theo mức hỗ trợ đối với giáo viên công lập có cùng trình độ tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định.

Dự thảo Nghị định cũng quy định riêng chính sách đối với giáo viên mầm non quy định tại khoản 1 Điều 7 và khoản 1 Điều 8 Nghị định số 06/2018/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non được thực hiện đến hết năm 2021./.


Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Giàu
Nguồn:Tổng hợp Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Văn bản mới